Vải thiều

Cập nhật lúc: 09:27 15/06/2019

  • Tên phổ thông: lệ chi

  • Tên khoa học: Litchi chinensis

  • Họ thực vật: Họ Bồ hòn (Sapindaceae)

  • Nguồn gốc xuất xứ: miền Nam Trung Quốc

  • Phân bố ở Việt Nam: Trên cả nước

1. Đặc điểm hình thái:

  • Thân, tán, lá: Vải là cây thường xanh với kích thước trung bình, có thể cao tới 15–20 m, có lá hình lông chim mọc so le, mỗi lá dài 15–25 cm, với 2-8 lá chét ở bên dài 5–10 cm và không có lá chét ở đỉnh. Các lá non mới mọc có màu đỏ đồng sáng, sau đó chuyển dần thành màu xanh lục khi đạt tới kích thước cực đại.

  • Hoa, quả, hạt:

    Hoa nhỏ màu trắng ánh xanh lục hoặc trắng ánh vàng, mọc thành các chùy dài dài tới 30 cm.

    Quả là loại quả hạch, hình cầu hoặc hơi thuôn, dài 3–4 cm và đường kính 3 cm.Lớp vỏ ngoài màu đỏ, cấu trúc sần sùi, không ăn được nhưng dễ dàng bóc được. Bên trong là lớp cùi thịt màu trắng mờ, ngọt và giàu vitamin C, có kết cấu tương tự như của quả nho. Ở giữa quả là một hạt màu nâu, dài 2 cm và đường kính cỡ 1-1,5 cm. Hạt - tương tự như hạt của quả dẻ ngựa - có độc tính nhẹ và không nên ăn.

2. Công dụng:

Tăng cường hệ miễn dịch: Theo Livestrong, quả vải có chứa nhiều vitamin C, hợp chất chống oxy hóa mạnh, giúp cải thiện chức năng miễn dịch, bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh thông thường như ho, cảm lạnh, cúm... Trong 100 gram vải có chứa 71,5 mg vitamin C. Trẻ nhỏ cũng được khuyến khích ăn vải để phòng tránh và điều trị căn bệnh suy dinh dưỡng, thấp còi do thiếu vitamin C.

Ngăn ngừa ung thư: Hợp chất flavonoid trong quả vải có tác dụng phòng ngừa ung thư, đặc biệt là ung thư vú. Bên cạnh đó, vitamin C giúp trung hòa các gốc tự do, ngăn ngừa quá trình chuyển hóa các tế bào bình thường thành tế bào ung thư.

Giảm viêm: Các gốc tự do cũng gây ra lão hóa sớm và làm chậm việc sửa chữa tế bào. Do vậy, ăn vải thường xuyên giúp kiểm soát tình trạng viêm và ngăn ngừa các bệnh thoái hóa như viêm khớp.

Cải thiện lưu thông máu: Những khoáng chất cần thiết cho cơ thể như đồng, hemoglobin, folate và magiê được tìm thấy với số lượng đáng kể trong quả vải. Chúng góp vai trò quan trọng trong quá trình tạo hồng cầu, thúc đẩy lưu thông máu và tăng khả năng oxy hóa của các cơ quan và tế bào trong cơ thể.

Tăng cường trao đổi chất: Theo Wiki Fitness, với hàm lượng chất xơ và vitamin B cao, quả vải có khả năng tăng cường sự trao đổi chất, giúp cơ thể làm sạch hệ thống các cơ quan, tế bào bằng cách loại bỏ các chất dinh dưỡng dư thừa như đường, chất béo và protein.

Kiểm soát huyết áp, bảo vệ tim mạch: Kali trong vải giúp kiểm soát huyết áp, nhịp tim, nhờ đó ngăn ngừa đột quỵ và các bệnh về tim mạch. Đây cũng là dưỡng chất hỗ trợ làm giảm co thắt mạch máu và động mạch, điều tiết các chức năng của cơ bắp.

Ngoài ra, khoa học cũng đã chứng minh quả vải có khả năng loại bỏ các cholesterol xấu và làm tăng cholesterol tốt trong máu. Do đó, loại quả này cải thiện được quá trình lưu thông máu tới tim, giảm nguy cơ đau tim, đột quỵ và cao huyết áp.

Hỗ trợ tiêu hóa: Theo Mercola, sự kết hợp của pectin, chất xơ và nước trong vải rất có lợi cho nhu động ruột, duy trì hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh. Chúng cũng giúp làm sạch ruột, ngăn ngừa táo bón và ung thư ruột kết.

Giúp xương chắc khỏe: Vải rất giàu phốt pho, magiê và các chất khoáng như đồng, mangan, do đó hỗ trợ xương chắc khỏe và ngăn ngừa tình trạng giòn, dễ gãy. Kẽm, đồng trong vải làm tăng hiệu quả của vitamin D, đồng hóa canxi hiệu quả, duy trì sức khỏe của xương.

3. Kỹ  thuật trồng vải thiều: 

Thời Vụ và Mật Độ Trồng:
Vải thiều có thể trồng được quanh năm, nhưng có 2 thời điểm trồng thích hợp nhất là vụ xuân tháng 2 – 4 và vụ thu tháng 8 – 10 dương lịch. Tuỳ thuộc vào giống, độ màu mỡ của đất đai, điều kiện khí hậu cũng như khả năng thâm canh, mức độ đầu tư mà xác định mật độ trồng và khoảng cách trồng vải thiều Thanh Hà hợp lý. Khoảng cách trồng vải thích hợp là 7m x 7m hoặc 8m x 8m (mật độ 205 cây và 156 cây/ha). Trong điều kiện thâm canh cao, có thể trồng với khoảng cách 3m x 4m hay 4m x 6m (mật độ 832 cây và 416 cây/ha) hoặc trồng với mật độ trên nhưng đến khi giao tán cách 1 cây chặt bỏ 1 cây còn lại khoảng cách 4m x 6m hay 6m x 8m (mật độ 416 cây và 208 cây/ha) để khai thác tiềm năng cho sản lượng cao trong những năm đầu của chu kỳ kinh doanh do mật độ cao mang lại.
 
Làm Đất Và Đào Hố Trồng:
Đất được lên luống để dễ thoát nước chống ngập úng. Khi cần thiết phải xử lý các nguy cơ tiềm ẩn từ đất (dư lượng kim loại nặng, nitrate, xói mòn, ngập úng… ảnh hưởng đến cây trồng và sức khỏe người tiêu dùng), tổ chức và cá nhân SX phải được sự tư vấn của nhà chuyên môn và phải ghi chép, lưu trong hồ sơ các biện pháp xử lý. Trong vùng sản xuất vải thiều Thanh Hà hạn chế chăn thả vật nuôi gây ô nhiễm nguồn đất, nước. Nếu bắt buộc phải chăn nuôi thì phải có chuồng trại và có biện pháp xử lý chất thải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và sản phẩm sau thu hoạch. - Đào hố trồng vải phải dựa trên nguyên tắc: đất xấu đào to, đất tốt đào nhỏ. Thông thường kích thước hố: dài x rộng x sâu là: 0,8cm x 0,80m x 0,6cm, vùng đồi đất xấu cần đào hố to hơn, kích thước tương ứng là: 1m x 1m x 0,8m.
Phân Bón Lót:
Bón lót: cho 1 hố: 30-50 kg phân chuồng; 0,7-1,0 kg supe lân; 0,5 kg vôi bột. - Khi đào: để lớp đất mặt một bên, lớp đất dưới một bên. Lớp đất mặt trộn với toàn bộ lượng phân bón lót và lấp lên đến miệng hố, lớp đất dưới đáy xếp thành vồng xung quanh hố. Công việc chuẩn bị hố trồng, bón lót được tiến hành trước khi trồng 1 tháng.
 
Kỹ Thuật Trồng Cây Vải Thiều:
Khơi một hố nhỏ chính giữa hố đào, xé bỏ túi bầu và nhẹ nhàng đặt cây xuống hố, đặt bầu cây giống vào sao cho cổ rễ bằng hoặc thấp hơn mặt đất 2 - 3 cm, lấp đất và dùng tay nén chặt xung quanh gốc. Cắm cọc và dùng dây mềm buộc cố định cây để tránh gió lay đứt rễ. Cần tủ gốc giữ ẩm cho cây sau khi trồng bằng rơm rạ hoặc cỏ khô rộng 0,8 - 1,0m; dày 7 - 15cm, cách gốc 5 - 10 cm. Vào mùa nắng nên dùng rơm rạ, cỏ khô, thân cây đậu đỗ… để tủ gốc giữ ẩm cho cây. Ngoài việc giữ ẩm cho cây biện pháp này còn giúp hạn chế sự phát triển của cỏ dại.
Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Vải Thiều:
 
Kỹ thuật chăm sóc định kỳ:
Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Phòng trừ cỏ dại: Phủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh... để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần.
 
Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình:
Cắt tỉa tạo hình cho vườn cây kiến thiết cơ bản: 
• Tạo cành cấp 1: Khi cây con đạt chiều cao 45 - 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 - 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 - 10cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 450 - 600 để khung tán đều và thoáng. 
• Tạo cành cấp 2: Khi cành cấp 1 dài 25 - 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng. 
• Tạo cành cấp 3: Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau để cây quang hợp được tốt. 

* Cắt tỉa hàng năm cho vườn vải thiều kinh doanh:

- Cắt tỉa vụ xuân: được tiến hành vào giữa tháng 2 đến giữa tháng 3; cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành mang sâu bệnh và những cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, thưa, mọc sâu trong tán, chùm hoa bị sâu bệnh. Với cây khoẻ mạnh, chăm sóc tốt thì có thể tỉa bỏ 20 – 30% số chùm hoa, những cây yếu cần tỉa bỏ nhiều hơn. 

- Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành giữa tháng 5 đến đầu tháng 6; cắt bỏ những cành hè mọc nhỏ, yếu, mọc quá xít nhau, chỉ để lại 1 - 2 cành khoẻ trên cành mẹ. Đồng thời với việc tỉa cành là cắt bỏ những chùm chùm quả nhỏ, sâu bệnh. 

- Cắt tỉa vụ thu: được tiến hành sau khi thu quả vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7; tỉa bỏ các cành khô, cành sâu bệnh và các cành hè mọc quá dài. Khi lộc thu hình thành mọc dài khoảng 10 cm, tỉa bỏ những mầm yếu, mọc không hợp lý và chọn để lại 1 - 2 cành thu trên mỗi cành mẹ.
 
Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Vải Thiều:
Giai đoạn kiến thiết cơ bản : Hàng năm cần bón thúc cho vải 3 - 4 đợt. 

Đợt 1 vào tháng 2 để thúc đẩy ra cành mùa xuân; 
Đợt 2 vào tháng 5 để thúc đẩy ra cành mùa hè. 
Đợt 3 vào tháng 8 để thúc đẩy ra cành mùa thu. 
Đợt 4 vào vụ đông (tháng 11) bón supelân và kaliclorua tăng cường khả năng chống rét cho cây. 

Trong thời kỳ này cứ cách 1 năm lại bón cơ bản cho cây thêm phân hữu cơ và vôi bột vào tháng 7 và tháng 8. 

• Liều lượng bón: Lượng bón cho cây vải năm thứ nhất là: 
+ Đạm U rê: 0,1 - 0,15 kg/ cây + Lân Supe: 0,3 - 0,5 kg/cây 
+ Kalichlorua: 0,1 - 0,15 kg/cây. Chia đều cho các lần bón. 

- Từ những năm sau lượng bón tăng 40 - 60% so với năm trước tuỳ thuộc vào tình hình sinh trưởng của cây. 
- Lượng bón cho năm bón cơ bản (cách 1 năm bón 1 năm) vào tháng 7 - 8 là: 

+ Phân chuồng: 30 - 50 kg/ cây + Vôi bột: 0,3 - 0,5 kg/cây 

• Phương pháp bón phân: 
+ Hoà phân vô cơ với nước phân chuồng ủ kỹ để tưới cho cây cách gốc 15 - 20 cm. 
+ Cuốc 3 - 4 hố sâu 5 - 7 cm xung quanh tán, bón phân rồi lấp đất. + Rắc xung quanh hình chiếu tán cách gốc 15 - 20cm khi trời có mưa rào hoặc tưới nước. 
+ Giai đoạn kinh doanh: Từ năm thứ 3 trở đi:

- Lần 1: Bón giai đoạn đậu quả (phân quả xong, quả bằng hạt mây): 20% đạm urê + 35% Neb-26 + 100% NPK(16-16-8+13S) + 40% kaliclorua. 
- Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả (quả tạo cùi được 1/3 hạt): 13% đạm urê + 35% Neb-26 + 60% kaliclorua. 
- Lần 3: Bón sau khi thu hoạch quả xong 15 ngày, thúc ra lộc thu (thu hoạch xong, tỉa cành, tạo tán xong): 67% đạm urê + 0,6 ml Neb-26. (Đối với cây vải trên 15 năm tuổi bón: 3 kg Urê + 200 ml Neb-26 + 15 kg NPK (16-16-8+13S) + 10 kg kaliclorua/sào. 

Bón làm 3 đợt: 
Đợt 1 quả bằng hạt mây bón 0,6 kgUre+0,7ml Neb-26+15 kgNPK+4 kg kali/sào; 
Đợt 2 quả tạo cùi bón 0,4kg Ure+0,7ml Neb-26+6kg kali/sào; 
Đợt 3 sau thu hoạch 15 ngày bón 2 kg Ure+0,7 kg Neb-26/sào. 

• Cách bón:
- Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 20 - 30 cm, sâu 30 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Hoặc có thể đào 3 rãnh theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại. 

- Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán, sau đó tưới nước để hoà tan phân. Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới.
 Phòng Trừ Sâu Bệnh Cho Cây Vải Thiều:
Bọ xít nâu (Tessaratoma papillosa Drury): 
- Phòng trừ: 
+ Vụ đông, rung cây vào buổi sáng sớm khi lá còn ướt sương cho bọ xít rơi xuống, tập trung lại và đốt. 
+ Ngắt các lá có ổ trứng ở mặt dưới đem tiêu huỷ 
+ Phun thuốc diệt bọ xít non bằng Dipterex 0,3%; Sherpa 0,2%. Sâu đục đầu quả (Conopomopha sinensis Bradley): 

- Phòng trừ: 
+ Quét dọn cành lá khô, quả rụng làm giảm nguồn sâu 
+ Khống chế lộc đông. 
+ Phun thuốc phòng trừ vào các đợt cuối các tháng 3, 4, 5 và trước thu hoạch 15 - 20 ngày bằng Regent 0,05% để phòng trừ. Rệp hại hoa, quả non (Ceroplastes ceriferus Anderson): 

- Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc ít ảnh hưởng đến hoa, quả non như Trebon 0,2%; Sherpa 0,2% phun kép 2 lần, lần 1: khi rệp xuất hiện, lần 2: sau 5 – 7 ngày vào lúc chiều mát. Sâu đục thân cành (Apriona germani Hope): 

- Phòng trừ: 
+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non 
+ Sau thu hoạch quét vôi vào gốc cây để diệt trứng 
+ Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 0,1%; Sumicidin 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu. Ngài chích hút (Lagoptera dotata Fabricius): 

- Phòng trừ: 
+ Xông khói xua đuổi 
+ Bẫy ngài bằng lồng lưới 
+ Bẫy bằng bả hoá học: Naled 5% + Metyl Eugenol 95% + dịch nước cam, dứa, chuối, mía, mít (100m2/1 bả). Nhện lông nhung hại vải (Eriophyes litchii Keifer): 

- Phòng trừ: 
+ Thu gom các lá rụng và cắt bỏ các cành bị hại nặng đem đốt. Sau thu quả và vụ đông cắt tỉa cho cây thông thoáng, làm vệ sinh vườn để giảm bớt điều kiện hoạt động của nhện. 
+ Sử dụng thuốc: Regent 0,1%; Pegasus 0,1%; Ortus 0,1% có tác dụng diệt nhện trưởng thành tốt. Phun cho mỗi đợt lộc 2 lần: lần 1 nhú lộc, lần 2 lộc ra rộ. Câu cấu hại vải (Xanthochellus sp): 

- Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc Sherpa 0,1%; Sumicidin 0,1%, supraside 0,15% phun vào lúc chiều mát hoặc sáng sớm. Bệnh mốc sương (Pseudoreronospora sp): 

- Phòng trừ: 
+ Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh. Phun phòng bằng Boocdo (1%), Oxiclorua Đồng (0,3%). Khi thấy xuất hiện bệnh trên hoa quả, dùng Ridomil MZ-72 (0,2%) để phòng trừ. Bệnh sém mép lá (Gloeosporium sp): 

- Phòng trừ: 
+ Cắt bỏ những cành lá bị bệnh đem đốt tránh lây lan nguồn bệnh. 
+ Phun Boocdo 1%, Ridomil MZ-72 0,2%. Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides Penz.) 

- Phòng trừ: 
+ Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, gom lại và tiêu hủy. 
+ Phun phòng thuốc vào vụ thu đông bằng Score 0,05%, Oxiclorua Đồng 0,3%, Bavistin 0,1%.
 
Thu Hoạch và Bảo Quản
Chấm dứt phun xịt thuốc bảo vệ thực vật và chất kích thích sinh trưởng trước khi thu hoạch vải thiều 10 – 15 ngày 

- Nên thu hoạch khi quả vải thiều đạt độ chín sinh lý để quả vải thiều có chất lượng ngon nhất và bảo quản lâu hơn. Thời điểm thu hoạch vải thiều tốt nhất là vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Tránh ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp vào trái làm tăng nhiệt độ trong quả, gây mất nước ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian bảo quản. 

- Dụng cụ thu hoạch quả vải thiều như kéo cắt cành phải sắc, bén. Chùm quả sau khi cắt được đựng trong giỏ, sọt, để trong mát, phân loại sơ bộ và vận chuyển ngay về nhà đóng gói càng sớm càng tốt. Các dụng cụ như dao, kéo, giỏ, sọt… được dùng trong thu hoạch vải thiều nhiều lần phải được chùi rửa, vệ sinh, sát trùng, bảo quản cẩn thận. 

- Sản phẩm vải thiều sau thu hoạch không được để tiếp xúc trực tiếp với đất, hạn chế để qua đêm. 

- Không chất quả vải thiều quá đầy giỏ, sọt khi vận chuyển, giỏ, sọt phải được bao lót kỹ, che phủ bằng giấy hoặc lá để tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào quả và tổn thương quả do va chạm trong khi vận chuyển.